Tin tức - Sự kiện

26
08 2016
90% thủ khoa quay lưng, từ chối chính sách đãi ngộ của Thủ đô Viết bởi Phạm Đức Quang
Chuyên mục chính: Tin tức Chuyên mục: Tin tức - Sự kiện Ngày đăng ?

Từ khi thực hiện chính sách thu hút tài năng trẻ (2003-2015), Thành phố tuyển dụng được 147 thủ khoa vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc Thành phố.

Trong buổi thông báo chương trình Tuyên dương Thủ khoa xuất sắc tốt nghiệp các trường đại học, học viện trên địa bàn Thành phố vào chiều 23/8, tại Thành ủy Hà Nội, ông Trần Anh Tuấn -  Phó Bí thư Thường trực Thành đoàn Hà Nội cho biết:

Năm 2016 là năm thứ 14 liên tiếp Thành phố Hà Nội tổ chức tuyên dương các thủ khoa xuất sắc tốt nghiệp các trường đại học, học viện trên địa bàn Thành phố. Tính đến nay đã có 1.533 thủ khoa được vinh danh, đón nhận Bằng khen của UBND Thành phố.

Ông Trần Anh Tuấn thông tin, năm nay, Hà Nội tuyên dương 100 thủ khoa xuất sắc tốt nghiệp trường Đại học, học viện trên địa bàn Thành phố.

Trong số 100 thủ khoa được tôn vinh năm nay, 60 thủ khoa có kết quả học tập đạt loại xuất sắc (đạt hơn 9.0 theo đào tạo niên chế và hơn 3.6 theo đào tạo tín chỉ), 40 thủ khoa có kết quả học tập đạt loại giỏi.

Trong đó có 62 nữ (chiếm 62%), 38 nam. Đặc biệt, trong 100 thủ khoa xuất sắc có 2 sinh viên vừa là thủ khoa tuyển sinh đại học, vừa là thủ khoa tốt nghiệp. Hai sinh viên đạt thủ khoa “kép” là Lại Thành Minh – Đại học Mỹ thuật Việt Nam và Đinh Nho Minh – Học viện Chính sách và Phát triển.

Cũng theo ông Trần Anh Tuấn, nhiều thủ khoa xuất sắc là những tấm gương vượt khó vươn lên, có công trình nghiên cứu khoa học, đề tài sáng kiến, giải pháp thiết thực hiệu quả được giải trong nước và quốc tế...

Dự kiến, chương trình vinh danh các thủ khoa sẽ diễn ra vào tối Chủ nhật (28/8).

Theo Ban Tuyên giáo Thành uỷ, dự kiến Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam sẽ tới dự và chúc mừng các thủ khoa.

Đại diện Sở Nội vụ Hà Nội cho biết, từ khi thực hiện chính sách thu hút tài năng trẻ đến nay, Thành phố đã tuyển dụng gần 300 tài năng trẻ vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc Thành phố, trong đó có 147 thủ khoa, chiếm gần 10% số thủ khoa được vinh danh trong 14 năm qua. 

Cũng theo vị này, nếu các thủ khoa xuất sắc nếu có nguyện vọng về làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Thành phố và sẽ được hưởng chính sách đãi ngộ như: Được tiếp nhận hoặc xét đặc cách không qua thi tuyển; được hưởng hỗ trợ đãi ngộ thu hút một lần bằng 20 lần mức lương tối thiểu tại thời điểm được tuyển dụng, tiếp nhận...

Lý giải về câu hỏi số thủ khoa sau tuyên dương đã đi đâu, ông Trần Anh Tuấn cho biết, trong số các thủ khoa nhiều em đã nhận được học bổng đi du học nước ngoài.

Dù Hà Nội có chính sách trọng dụng nhân tài nhưng không có nghĩa là 100 thủ khoa phải làm việc tại Hà Nội. Nhiều em sẽ quay về làm việc tại địa phương với nhiều chính sách đãi ngộ tốt hoặc ở lại trường làm giảng viên.

Nguồn: giaoduc.net.vn

 

07
04 2017
Chàng trai 9X vừa học giỏi, vừa là tấm gương tiêu biểu của “việc tử tế” Viết bởi Phạm Đức Quang
Chuyên mục chính: Tin tức Chuyên mục: Tin tức - Sự kiện Ngày đăng ?

Hoàng Đình Quang nổi bật không chỉ với những thành tích học tập mà còn là tấm gương của “việc tử tế”, với hàng trăm video hướng dẫn ôn thi miễn phí…

Hoàng Đình Quang là một trong 10 gương mặt trẻ tiêu biểu Thủ đô năm 2016. Quang nổi bật không chỉ với những thành tích học tập mà còn là tấm gương của “việc tử tế”, với hàng trăm video hướng dẫn ôn thi miễn phí…

Hoàng Đình Quang (sinh năm 1994) là Á khoa đầu vào trường Đại học Ngoại thương Hà Nội (29,5 điểm), đồng thời đỗ Y Đa khoa - Trường Đại học Y Hà Nội năm 2012 với 26 điểm.

Sau thời gian học tập, Quang đã tốt nghiệp Thủ khoa trường Đại học Ngoại thương. Đồng thời tốt nghiệp xuất sắc bằng đại học số 2 là bằng cử nhân luật thương mại Quốc tế.

Ngay sau khi ra trường, Quang đã được rất nhiều các đơn vị doanh nghiệp nhận vào làm. Hiện, Quang đang là Trợ lý Tổng Giám đốc tập đoàn Đại Việt Group – Công ty cổ phần đầu tư và công nghệ Đại Việt.

Ngoài những thành tích học tập ấy, chàng trai trẻ này đã có rất nhiều những video hướng dẫn cho học sinh ôn thi hoàn toàn miễn phí và còn là tác giả cuốn sách “Công phá đề thi quốc gia môn Hóa Học”. Và, Quang còn mở lớp dạy học cho học sinh nghèo.

Hoàng Đình Quang là một trong 10 gương mặt trẻ tiêu biểu Thủ đô năm 2016 (Ảnh nhân vật cung cấp)

Hoàng Đình Quang quê ở Thái Bình sinh ra trong gia đình không có điều kiện, khi còn là học sinh trung học phổ thông, nhà Quang có máy tính nhưng không có mạng Internet nên Quang chỉ tự học chứ không có điều kiện đi học thêm bên ngoài, không học ở các lớp luyện thi vào Đại học.
 
Mỗi tuần 2-3 lần, Quang đạp xe đến nhà bạn cách chừng 8km để lấy tài liệu trên mạng từ máy tính của bạn copy vào USB để mang về nhà học. 

Chính vì vậy, Quang thấu hiểu được khó khăn của các em học sinh nông thôn khác.

Quang ấp ủ một mong muốn đó là có thể truyền tải lại kiến thức, phương pháp học tập của mình để giúp các em học sinh có tài liệu học tốt hơn, có phương pháp hiệu quả hơn.

Do Quang là Á khoa đầu vào Đại học Ngoại thương Hà Nội với điểm 10 môn Hóa nên Quang đã được một nhà sách đề nghị viết một cuốn sách về Hóa học.

Cuốn sách “Công phá đề thi quốc gia môn Hóa Học” ra đời sau 3 tháng làm việc miệt mài, mỗi ngày 12 giờ đồng hồ của chàng trai trẻ. Cuốn sách được nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản tháng 12/2014 với 700 trang.

Tính đến nay sau hơn 3 lần tái bản, cuốn sách dày 1200 trang đã tiêu thụ được 12.000 bản.

Cuốn sách chứa toàn bộ kiến thức mà một học sinh trung học phổ thông cần để thi đại học đạt 9 điểm trở lên, với đấy đủ phương pháp, lý thuyết và đề luyện tập.

Kiến thức trong cuốn sách được trình bày rất cụ thể, đặc biệt trong cuốn sách đề cập đến “phương pháp số đếm” – phương pháp do Quang sáng tạo, chỉ với 3 bước đơn giản. Đó là Đếm – Gạch – Tính mà học sinh lớp 8 có thể giải được những câu hỏi khó trong đề thi đại học. 

Hiện nay, cuốn sách được rất nhiều giáo viên, học sinh tin tưởng, ủng hộ và coi như một tài liệu để tham khảo. 

Kiên nhẫn và nỗ lực sẽ tạo nên thành công

Chàng trai 9X hóm hỉnh chia sẻ: Trước đây, mình học kém, đặc biệt là môn Toán. Nhưng sau đó, mình đã rất cố gắng và kiên trì học Toán bằng cách mua sách về đọc và tập làm. 

Phần lớn bài mình không làm được. Và mình đã phải đọc đáp áp, có những bài mình phải xem đáp án đến hàng chục lần. Thậm chí, có những bài mình thuộc cả đề và đáp án. Nhờ vậy, mình dần học tốt hơn, có phương pháp hơn đặc biệt là các môn Toán, Lý, Hóa”. 

Chiêm nghiệm từ bản thân, Quang cho rằng, để một học sinh từ Trung Bình – Kém trở thành một học sinh Khá – Giỏi thì điều quan trọng nhất là sự kiên nhẫn và nỗ lực.

Cuốn sách “Công phá đề thi quốc gia môn Hóa Học” ra đời sau 3 tháng Quang làm việc miệt mài (Ảnh nhân vật cung cấp)

Ngoài ra, Quang có hàng trăm video trên youtube để hướng dẫn học sinh ôn thi.

Quang cho biết: “Nếu như em dạy học offline miễn phí tại các lớp học thì chỉ có thể tiếp cận và giúp cho 100-200 học sinh một năm. Nếu làm video đăng lên youtube thì sẽ tiếp cận và giúp được hàng ngàn, chục ngàn em học sinh.

Vì vậy em dành chủ yếu thời gian để thực hiện video dạy học cho trẻ em nghèo. Em luôn cố gắng lựa chọn giải pháp hiệu quả nhất, giúp đỡ được nhiều em nhất, và đó chính là nhờ vào mạng xã hội và youtube”.

Để thực hiện các video này, Quang đã mượn máy quay từ bạn bè, mượn địa điểm quay video tại nhà một người quen và thực hiện các video miễn phí.

Quang thường quay vào buổi đêm để đảm bảo yên tĩnh, có những hôm Quang chỉ có thể quay vào lúc 1 giờ sáng vì chỉ mượn máy quay và địa điểm thời gian đó.

Những hôm mùa đông, trời rất lạnh, chàng trai trẻ vẫn cố gắng nỗ lực để thực hiện, nhưng mùa hè thì trời nóng, phòng mượn được để quay thì bé nhưng không được bật quạt vì sẽ làm ồn ảnh hưởng đến chất lượng video.

Cũng chính vì tinh thần vượt khó, nghị lực phấn đấu trong mọi hoàn cảnh mà Quang muốn được giúp đỡ nhiều người hơn. Chàng trai luôn mong có thể giúp được nhiều học sinh, sinh viên có thêm kiến thức, kĩ năng để học tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn và có tương lai tốt đẹp hơn.

Kỉ niệm mà Quang nhớ nhất là trở thành “nhà tư vấn tâm lý” thành công cho một học sinh: Có một em học sinh lớp 12 sau khi thi xong môn Toán trong kỳ thi tuyển sinh Đại học.

Sau khi so sánh đáp án, em học sinh đó thấy mình sai nhiều, cảm thấy lo lắng bất an. Vì áp lực từ nhiều phía, em học sinh đó còn muốn tự tử.

Bạn của em học sinh ấy đã gọi cho Quang. Nhờ sự khuyên nhủ, em học sinh đó đã hiểu vấn đề và giờ đã trở thành sinh viên Trường Đại học Thủy Lợi.

Đây là một kỉ niệm rất sâu sắc với Quang vì cảm thấy mình đã giúp đỡ được một bạn trẻ thoát khỏi những sự lo âu của tuổi trưởng thành.

Bảng thành tích của Hoàng Đình Quang: 

- Là Thủ khoa Tốt nghiệp Đại học Ngoại thương Hà Nội với điểm số 3,94/4 và 9,35/10 niên khóa 2012 - 2016.

- Liên tục nhận Học bổng Sumitomo năm 2012, 2013, 2015 dành cho sinh viên có điểm số cao nhất chuyên ngành Kinh tế Đối ngoại; Học bổng Lotte năm 2014; Học bổng khuyến khích học tập năm 2013, 2016.

- Giải Nhất môn Hóa học; Giải Nhì tỉnh môn Toán học; môn Máy tính cầm tay tỉnh Thái Bình năm 2012.

- Tác giả cuốn sách tham khảo môn hóa học: “Công phá đề thi Quốc gia môn hóa học”.

- Mở lớp học tình nguyện, miễn phí trong 2 năm 2014 -2015 dành cho 200 học sinh lớp 12 hoàn cảnh khó khăn ôn thi Đại học; lớp dạy “Kiến thức pháp luật Lao động” cho 100 sinh viên năm 2014.

- Năm lần tham gia tư vấn tuyển sinh cho học sinh cấp 3 tại Hưng Yên, Ninh Bình, Hà Nội.

- Thực hiện 100 video dạy học miễn phí cho học sinh nghèo trên youtube.

- Được VTV 24 trao danh hiệu “Việc tử tế tháng 5” trên chương trình Việc tử tế về hoạt động xã hội.

Nguồn: giaoduc.net.vn

15
03 2017
Chính phủ yêu cầu thường xuyên cập nhật và công khai thông tin Viết bởi Phạm Đức Quang
Chuyên mục chính: Tin tức Chuyên mục: Tin tức - Sự kiện Ngày đăng ?

Đó là một trong những nội dung tại Chỉ thị 08/CT-TTg ngày 14/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật tiếp cận thông tin.

Chỉ thị nêu rõ, Luật tiếp cận thông tin số 104/2016/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2018.

Đây là đạo luật rất quan trọng, tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân và nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cập nhật và công khai thông tin tới người dân, doanh nghiệp. ảnh: Báo Hải quan.

Để đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức thi hành kịp thời, hiệu quả đạo luật này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo khẩn trương chuẩn bị các điều kiện triển khai thi hành.

Cụ thể, các bộ, ngành, địa phương quán triệt nội dung và tinh thần các quy định của Luật tiếp cận thông tin.

Bằng các hình thức, biện pháp phù hợp, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về quyền và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức và công dân trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Bên cạnh đó, tổ chức rà soát các quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan để kịp thời tự mình hoặc đề xuất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật tiếp cận thông tin.

Các bộ, ngành, địa phương chuẩn bị các điều kiện bảo đảm thi hành luật như: Phân công, bố trí cơ quan, đơn vị trực thuộc, công chức, viên chức đáp ứng đủ năng lực, trình độ để làm đầu mối cung cấp thông tin; bố trí hợp lý nơi tiếp công dân để cung cấp thông tin phù hợp với điều kiện của từng cơ quan.

Bên cạnh đó, các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo việc lập, vận hành cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử; xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu thông tin mà cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, bảo đảm thông tin có hệ thống, đầy đủ, toàn diện, kịp thời, dễ dàng tra cứu; củng cố, kiện toàn công tác văn thư, lưu trữ, thống kê phục vụ cho việc cung cấp thông tin.

Ngoài ra, cần trang bị các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin và điều kiện cần thiết khác để đáp ứng kịp thời yêu cầu cung cấp thông tin của công dân tại trụ sở cơ quan và qua mạng điện tử.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương xác định nhiệm vụ cung cấp thông tin cho công dân là một trong các nhiệm vụ thường xuyên của bộ, ngành, địa phương, từ đó bố trí nguồn lực phù hợp để đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin cho công dân.

Hoàn thành việc lập danh mục thông tin phải được công khai; đăng tải danh mục trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan trước khi luật có hiệu lực 30 ngày; thường xuyên cập nhật và công khai thông tin đúng thời điểm, thời hạn và hình thức theo danh mục thông tin.

Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương rà soát, phân loại, kiểm tra và bảo đảm tính bí mật của thông tin trước khi cung cấp; kịp thời xem xét, cân nhắc lợi ích của việc cung cấp thông tin nhằm bảo đảm lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng.

Tăng cường cung cấp thông tin thông qua hoạt động của người phát ngôn của cơ quan nhà nước và phương tiện thông tin đại chúng.

Nguồn: giaoduc.net.vn

31
05 2017
Chủ trương bỏ biên chế giáo viên từng được đặt ra từ năm 1992 Viết bởi Phạm Đức Quang
Chuyên mục chính: Tin tức Chuyên mục: Tin tức - Sự kiện Ngày đăng ?

Muốn thực hiện chế độ hợp đồng phải thực hiện sự đổi mới đồng bộ các luật lệ, quy định, các chế độ chính sách, các yếu tố về truyền thống tâm lý xã hội...

Được biết, từ năm 1992, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trần Hồng Quân (nay là Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam) cùng cán bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo từng xây dựng chủ trương bỏ công chức, viên chức thay đổi bằng chế độ hợp đồng, giảng dạy và nghiên cứu khoa học. 

Về việc cần thiết thay đổi cơ chế từ biên chế sang hợp đồng được các nhà làm giáo dục những năm 1991 - 1992 lí giải: 

Vào thời điểm đó, cơ chế quản lí, sử dụng cán bộ giáo dục đại học khi đó bộc lộ nhiều điểm lạc hậu không phát huy hết tiềm năng cả đội ngũ và từng cá nhân, không kích thích sự phấn đấu trong chuyên môn, gây tâm lí dựa dẫm, cách làm việc tắc trách; tạo ra sự quản lý khép kín, xơ cứng, thiếu mềm dẻo linh hoạt, không sàng lọc được dễ dàng và thường xuyên những người yếu kém, làm cho biên chế ngày càng đầy ứ, cồng kềnh, hết khả năng tiếp nhận lớp trẻ.

Chủ trương bỏ biên chế chuyển sang hợp đồng chính thức được đặt ra từ năm 1992 (Ảnh chụp tài liệu)

Cơ chế đó ngày càng tỏ ra không thích hợp, thậm chí còn cản trở công cuộc đổi mới của ngành giáo dục cũng như công cuộc đổi mới toàn xã hội. Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải đổi mới cơ chế quản lí, sử dụng cán bộ giáo dục đại học.

Để phù hợp với chủ trương đổi mới quản lí kinh tế xã hội được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ VI và VII, để phục vụ yêu cầu cải cách quy trình, nội dung và phương pháp đào tạo ở đại học, chúng ta cần xây dựng cách quản lý, sử dụng cán bộ giáo dục theo hướng:

Tăng quyền tự quản cho trường đại học, tạo sự quản lí mềm dẻo, linh hoạt, sự tự sàng lọc dễ dàng, thường xuyên những người yếu kém, giảm nhẹ gánh nặng biên chế và mở rộng cửa cho những sinh viên ưu tú đi vào con đường khoa học.

Tạo quyền tự chủ cho người cán bộ giáo dục, phát huy tiềm năng của từng người để người giỏi được giảng dạy nhiều hơn và ở nhiều trường khác nhau, do đó, có thu nhập cao và đời sống khá, thu hút các cán bộ khoa học kĩ thuật, các nhà quản lý, kinh doanh giỏi... ngoài xã hội tham gia giảng dạy ở các trường đại học.

Chế độ hợp đồng giảng dạy và nghiên cứu khoa học là cách quản lí và sử dụng cán bộ giáo dục phù hợp với các phương hướng đã nêu.

Cách thực hiện kí hợp đồng 

Nghị định 135/HĐBT ngày 28/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng đã khẳng định việc thực hiện chế độ hợp đồng trong nghiên cứu khoa học.

Bộ đã phổ biến, hướng dẫn các trường đại học, các Viện nghiên cứu thuộc Bộ thực hiện kí hợp đồng nghiên cứu từ năm học 1992 – 1993.

Theo nguồn tin riêng của Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, các nhà làm giáo dục những năm 1991 – 1992 đã đưa ra một số ý kiến tổng quát xung quanh chế độ hợp đồng giảng dạy.

Đó là: 

Hợp đồng giảng dạy ở trường đại học là bản thỏa thuận giữa người trực tiếp giảng dạy với hiệu trưởng trường đại học về yêu cầu chuyên môn và điều kiện giảng dạy, về quyền và nghĩa vụ mỗi bên trong việc giảng dạy đại học, cao học và nghiên cứu sinh có hợp đồng dài hạn và ngắn hạn, có hợp đồng một phần thời gian và hợp đồng toàn thời gian, có hợp đồng trách nhiệm…

Thứ nhất, thực hiện chế độ hợp đồng giảng dạy là tạo điều kiện để cá nhân người cán bộ giáo giảng dạy nghiên cứu có toàn quyền quyết định khối lượng công việc nhận làm, mức thu nhập của bản thân và chịu trách nhiệm về chất lượng giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu khoa học, về thời hạn hoàn thành công việc.

Thực hiện chế độ hợp đồng giúp cho cơ sở đào tạo đại học – với tư cách người nêu ra yêu cầu của việc đào tạo (số lượng, chất lượng, các ngành, nghề đào tạo…) được toàn quyền lựa chọn những người ưu tú, các thầy giáo giỏi, các nhà khoa học, các nhà quản lý kinh doanh giỏi…để kí hợp đồng. Do đó, chất lượng đào tạo có điều kiện để nâng lên. 

Quản lý và sử dụng cán bộ giảng dạy theo chế độ hợp đồng giảng dạy và nghiên cứu khoa học gắn với việc tổ chức sắp xếp lại các trường đại học. 

Lúc đó, ở các trường công lập chỉ còn một bộ phận nhỏ (chủ yếu là bộ khung của bộ máy hành chính, giảng dạy của nhà trường) là thuộc biên chế cơ hữu.

Đại đa số các cán bộ giảng dạy cũng như nhân viên trong trường sẽ chuyển từ chế độ biên chế suốt đời sang chế độ hợp đồng giảng dạy có thời hạn. Việc làm, thu nhập, đời sống của họ gắn chặt với việc hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy của họ trong năm học trước. 

Chế độ hợp đồng giảng dạy cho phép luôn luôn tạo được sự tương ứng giữa khối lượng công việc giảng dạy với số lượng cán bộ giảng dạy cần thiết, tạo điều kiện đánh giá thường xuyên chất lượng giảng dạy của từng cá nhân, tạo khả năng sàng lọc hàng năm.

Do đó kích thích sự vươn lên của từng cá nhân cán bộ giảng dạy để khẳng định vị trí của mình trong giảng dạy và nghiên cứu. Đây chính là nguồn động lực tự thân của từng người cũng như cùa toàn bộ đội ngũ. 

Thực hiện chế độ hợp đồng giảng dạy là thực hiện chế độ trả lương theo việc làm. Điều cơ bản về phía nhà trường là xác định đúng khối lượng công việc; có cơ chế đánh giá đúng chất lượng giảng dạy và đào tạo.

Về phía cán bộ giảng dạy, điều quan tâm là mức lương trả cho họ có xứng đáng với chức danh với giá trị chất xám của họ kết tinh trong sản phẩm đào tạo hay không.

Nói cách khác nó đòi hỏi xã hội phải đặt đúng vị trí, trả lại giá trị đích thực cho nghề thầy giáo không phải chỉ bằng lời lẽ động viện mà còn bằng giá trị vật chất tương ứng. 

Thứ hai, việc chuyển sang quản lý, sử dụng cán bộ giảng dạy đại học theo cơ chế hợp đồng giảng dạy là việc lớn và khó.

Việc làm này đụng chạm đến nếp nghĩ, cách làm quen thuộc xưa nay đã ăn vào máu thịt của nhiều người, đụng chạm đến năng lực và đời sống từng cá nhân cán bộ giảng dạy.

Việc làm này có ý nghĩa xã hội sâu sắc, vì cán bộ giảng dạy đại học là tầng lớp trí thức, là vốn quý đã được đào tạo cơ bản, có hệ thống. 

Mặt khác, việc làm này đòi hỏi một sự thay đổi cơ bản trong hàng loạt các quy định, chế độ gắn liền với cách quản lý, sử dụng hiện nay (từ chế độ làm việc đến cách trả lương, từ luật lao động, định mức làm việc…). 

Muốn thực hiện chế độ hợp đồng giảng dạy phải thực hiện sự đổi mới đồng bộ các luật lệ, quy định, các chế độ chính sách, các yếu tố về truyền thống tâm lý xã hội…phải tính đến các vấn đề do lịch sử để lại. 

Việc chuyển sang quản lý và sử dụng cán bộ giảng dạy theo chế độ hợp đồng là việc lớn, liên quan đến nhiều ngành và nhiều mặt của toàn xã hội.

Do đó, cần được Nhà nước và xã hội đồng tình, ủng hộ bằng dư luận và bằng điều kiện tài chính.

Để giải quyết các vấn đề đối với đội ngũ cán bộ giảng dạy khi chuyển sang chế độ hợp đồng, đòi hỏi một nguồn tài chính lớn, để giải quyết các vấn đề phát sinh như: đào tạo lại, giải quyết việc làm, trợ cấp xã hội, trả lương theo quy định cho số biên chế dư không được kí hợp đồng trong giai đoạn chuyển tiếp...

Nguồn tài chính đó phải được Nhà nước cấp. Chỉ có như vậy mới tạo được bước chuyển tiếp êm đẹp, có thể vượt qua các khó khăn. 

Chế độ lương mới

Việc chuyển sang quản lý và sử dụng cán bộ giảng dạy theo chế độ hợp đồng phải qua giai đoạn chuyển tiếp và đi từ thấp đến cao, thực hiện sự thay đổi ngày càng toàn diện hơn phù hợp với sự chuyển biến của xã hội và cải cách của ngành đại học, với việc sắp xếp lại mạng lưới trường và việc thực hiện chế độ lương mới.

Giai đoạn đầu, khi các quy định về lao động và làm việc chưa kịp có sự thay đổi, có thể thực hiện chế độ hợp đồng đối với cán bộ giảng dạy trẻ mới tuyển, hợp đồng mời các chuyên gia giỏi ngoài trường tham gia giảng dạy và đào tạo, hợp đồng giảng dạy ngoài định mức đối với các cán bộ giảng dạy trong trường đã hoàn thành định mức. 

Giai đoạn hai, khi thực hiện chế độ lương mới sẽ tiến hành kí hợp đồng trách nhiệm với toàn thể cán bộ giảng dạy trong biên chế.

Hợp đồng trách nhiệm xây dựng theo nguyên tắc: làm đủ định mức của chức danh lĩnh đúng mức lương quy định, nếu làm ít hơn hoặc cao hơn định mức sẽ lĩnh lương thấp hơn hoặc cao hơn mức lương quy định. 

Ở giai đoạn này, những người không được kí hợp đồng sẽ được nhận một mức lương quy định trong một thời hạn nhất định. Trong quãng thời gian đó họ có thể được đào tạo lại để chuyển sang công việc mới hoặc được đào tạo bổ túc để đủ năng lực giảng dạy.

Hết thời hạn quy định nếu họ tiếp tục không được kí hợp đồng giảng dạy thì bản thân người cán bộ giảng dạy hoặc nhà trường giúp họ tìm việc làm khác ngoài công tác giảng dạy. 

Giai đoạn ba, thực hiện triệt để chế độ hợp đồng giảng dạy toàn thời gian với toàn thể cán bộ giảng dạy. 

Tuy nhiên, sau đó, chủ trương này đã không được thực hiện bởi một số nguyên nhân trong bài viết sau Báo điện tử Giáo dục Việt Nam sẽ chỉ ra lý do cụ thể.

Nguồn: giaoduc.net.vn

17
05 2017
Chương trình du học Nhật Bản năm 2017-2018 của Bộ Giáo dục Viết bởi Phạm Đức Quang
Chuyên mục chính: Tin tức Chuyên mục: Tin tức - Sự kiện Ngày đăng ?

Cục Đào tạo với nước ngoài (Bộ GD&ĐT) vừa có thông báo tuyển sinh đi học đại học tại Nhật Bản năm 2017 - 2018.

Theo đó, tổng số có 5 chỉ tiêu học bổng toàn phần cho công dân Việt Nam đi đào tạo tại Nhật Bản trình độ đại học về lĩnh vực liên quan tới công nghiệp máy móc. Ngôn ngữ sử dụng trong học tập là tiếng Nhật.

Tổng thời gian học tối đa là 6 năm bao gồm: Thời gian học tiếng Nhật tại Việt Nam: 0,5 năm; thời gian học tiếng Nhật tại Nhật Bản: 1 đến 1,5 năm; thời gian học đại học tại Nhật Bản: 4 năm.

Dự kiến ứng viên bắt đầu học tiếng Nhật tại Việt Nam từ tháng 4/2017; bắt đầu học tiếng Nhật tại Nhật Bản vào tháng 10/2017; tham dự kỳ thi đầu vào đại học cho sinh viên quốc tế (EJU) bằng tiếng Nhật vào tháng 6/2018 hoặc tháng 11/2018; bắt đầu khóa học đại học chuyên ngành tại Nhật Bản từ tháng 10/2018 hoặc tháng 4 năm 2019.

Bộ Giáo dục tuyển sinh đi học tại Nhật Bản năm 2017-2018 (Ảnh: aki.edu.vn)

Ứng viên trúng tuyển sẽ được MHI đài thọ kinh phí học tập tại Việt Nam và Nhật Bản như sau:

Giai đoạn 1 (Học tiếng Nhật tại Việt Nam): Cấp sinh hoạt phí cho mỗi sinh viên khoảng 7.400.000 VND/ tháng (tương đương 40.000 JPY/tháng) và học phí học tiếng Nhật.

Giai đoạn 2 (Học tiếng Nhật tại Nhật Bản): Cấp sinh hoạt phí cho mỗi sinh viên 130.000 JPY/ tháng; phí nhập học vào trường Nhật ngữ, học phí, lệ phí thi tiếng Nhật, lệ phí dự thi EJU, bảo hiểm y tế, vé máy bay một lượt từ Việt Nam sang Nhật.

Giai đoạn 3 (Học đại học tại Nhật Bản): Cấp sinh hoạt phí cho mỗi sinh viên 130.000 JPY/ tháng, học phí 600.000 JPY/ năm, phí nhập học, bảo hiểm y tế, vé máy bay khứ hồi Nhật Bản - Việt Nam mỗi năm một lần và vé máy bay một lượt từ Nhật Bản về Việt Nam sau khi tốt nghiệp khóa học.

Đối tượng và điều kiện dự tuyển: Sinh viên đại học năm thứ nhất các khối ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ của các đại học, học viện, trường đại học Việt Nam (hệ chính quy tập trung) có kết quả 3 năm học THPT và học kỳ I năm thứ nhất đại học đạt từ 7,0 trở lên (theo thang điểm 10 hoặc tương đương);

Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; không trong thời gian thi hành kỷ luật hoặc trong thời gian đang bị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý kỷ luật;

Không quá 20 tuổi (tính đến thời hạn nộp hồ sơ). Đủ sức khỏe để học tập tại nước ngoài (Trường hợp bị phát hiện có bệnh, không đủ điều kiện sức khỏe do giả mạo hồ sơ để đi du học sẽ phải về nước và tự chịu mọi chi phí phát sinh có liên quan, kể cả vé máy bay và hoàn trả lại kinh phí cho MHI);

Chưa đăng ký dự tuyển chương trình học bổng nào khác tại cùng thời điểm với thông báo này (từ khi thông báo có hiệu lực đến khi có kết quả sơ tuyển) để đi học nước ngoài năm 2017;

Cam kết hoàn thành chương trình đào tạo; mong muốn sau khi tốt nghiệp sẽ làm việc trong ngành Công nghiệp máy móc tại Việt Nam; cam kết sẽ thực hiện thông báo về thay đổi thông tin liên lạc cũng như cập nhật tình hình việc làm cho MHI và Bộ Giáo dục và Đào tạo trước khi nhận việc làm dài hạn.

Hồ sơ phải nộp trước ngày 1/3/2017 (tính theo dấu bưu điện chuyển hồ sơ đến Cục Đào tạo với nước ngoài và thời gian hoàn thành đăng ký online).

Nguồn: giaoduc.net.vn

22
05 2017
Giáo viên 2 năm không hoàn thành nhiệm vụ thì cho nghỉ Viết bởi Phạm Đức Quang
Chuyên mục chính: Tin tức Chuyên mục: Tin tức - Sự kiện Ngày đăng ?

Đội ngũ công chức, viên chức trong ngành Giáo dục khác với công viên chức thông thường.

Tại buổi làm việc với ngành giáo dục để trao đổi về nhiều vấn đề gợi mở cho Đề án đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, tổ chức lại hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập vào chiều 20/5, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ cho biết: 


Nghị quyết Trung ương 4 khóa 12 đã xác định cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công là 1 trong 5 nhiệm vụ trọng tâm của cơ cấu lại nền kinh tế. Trên cơ sở đó, Trung ương đã giao Ban Cán sự đảng Chính phủ nghiên cứu, xây dựng Đề án để trình Hội nghị Trung ương lần thứ 6 vào tháng 10/2017.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ khẳng định đây là cơ hội “chưa từng có” để ngành giáo dục đổi mới hệ thống và phát triển mạnh mẽ.

Bởi mục tiêu của đổi mới cơ chế quản lý và tổ chức lại hệ thống là để hệ thống tinh gọn, ít đầu mối hơn nhưng hoạt động với chất lượng cao hơn, thúc đẩy xã hội hóa các dịch vụ công lập.
 
Được biết, hiện nay lĩnh vực giáo dục và đào tạo có tới hơn 1,2 triệu lao động - đông đảo nhất trong khối dịch vụ công.

Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ (bên trái) làm việc với lãnh đạo ngành giáo dục (Ảnh: Xuân Trung)

Trao đổi với lãnh đạo ngành giáo dục về vấn đề quy hoạch mạng lưới, Phó Thủ tướng chỉ rõ bất cập, các trung tâm giáo dục thường xuyên hay cơ sở 2 của các trường đại học mở ra ở nhiều nơi trong khi nhu cầu thực tế không có. 

Trung tâm giáo dục thường xuyên rất nhiều, ở đâu cũng có trong khi hiện nay không còn nhiều nhu cầu học dẫn đến lãng phí. Như ở vùng Tây Nguyên đã có Đại học Tây Nguyên nhưng nhiều trường vẫn mở cơ sở 2 ở Tây Nguyên" - Phó Thủ tướng nêu ví dụ.

Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho biết, Bộ đã có chủ trương sắp xếp lại toàn bộ theo hướng không phải theo hành chính, phân theo công tư mà quy hoạch theo ngành.

Theo đó, các trường đại học và cụm đại học thay vì rải rác khắp nơi sẽ được tập trung thành các cụm, vùng để đào tạo tốt nhất. Bộ cũng đã xây dựng xong các chuẩn để tiến hành quy hoạch.

Đây sẽ là khung với các trường mới thành lập đồng thời là cơ sở để rà soát lại các trường đang hoạt động.

Đồng thời, quan điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo là tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị, nguồn lực của ngành Giáo dục, không phải mục tiêu chính là giảm biên chế hay tiết kiệm tiền mà mục đích là nâng cao chất lượng giáo dục, trên sở cơ cấu lại, tổ chức lại những gì bất hợp lý; tháo gỡ những tắc nghẽn, thậm chí có nhiều việc không cần đến tiền.

Riêng với các trường sư phạm, Bộ trưởng nêu ra một thực tế kéo dài khoảng 5 - 7 năm nay, các trường này gần như không được quan tâm đúng mức và đúng tính chất của trường sư phạm, dẫn đến trường phải tự xoay sở một cách yếu ớt. 

Đầu vào trường sư phạm không được tốt; trong quá trình đào tạo, tổ chức cũng chưa được đầy đủ; khi ra trường, sinh viên vào được các trường phổ thông rất khó khăn, nên học sinh học sư phạm ít, chất lượng thấp; khi ra trường vào đúng ngành không nhiều, đây là một sự lãng phí.

Theo Bộ trưởng, việc rà soát, quy hoạch chuẩn sư phạm theo hướng rà soát sắp xếp lại hệ thống, tập trung vào một số trường sư phạm quốc gia, trọng điểm để đầu tư. Còn các trường cao đẳng sư phạm hay khoa sư phạm các nơi là vệ tinh để thực hiện đào tạo lại đội ngũ giáo viên các tỉnh. 

Hướng của chúng tôi là sư phạm phải gắn với giáo viên, với trường phổ thông chứ không phải thông qua thị trường, để trong quá trình đào tạo bồi dưỡng và quá trình sử dụng giống như là trường y và bệnh viện. 

Đây là mối quan hệ trực tiếp, chất lượng, giảm được khâu trung gian. Nhu cầu của người học gắn với người sử dụng, từ đấy tạo nguồn thu cho các trường sư phạm
” – Bộ trưởng chia sẻ.

Thí điểm hợp đồng lao động giáo viên 

Tại buổi làm việc, vấn đề băn khoăn được Bộ trưởng đưa ra là tuyển dụng giáo viên, theo Bộ trưởng Nhạ phần lớn, nơi có nhu cầu tuyển dụng là các nhà trường, biết giáo viên thừa thiếu như thế nào để chủ động lên kế hoạch thì trường lại bị động. 

Vì người tuyển thường là Ủy ban nhân dân huyện hay Sở, tuyển theo kế hoạch chung, thậm chí tuyển gộp rồi phân về cho trường ký hợp đồng. Dẫn đến vênh nhau về chuyên môn, thừa thiếu cục bộ.

Đội ngũ công chức, viên chức trong ngành Giáo dục khác với công viên chức thông thường.

Trong luật viên chức có hợp đồng làm việc. Nếu hợp đồng làm việc 2 năm liền không hoàn thành thì cho nghỉ.

Tôi muốn nhấn mạnh là phải thực hiện nghiêm túc hợp đồng làm việc này và đẩy mạnh cho các trường phổ thông được tự chủ, còn không được tự chủ, không được hợp đồng”, Bộ trưởng khẳng định.

Và khi các trường phổ thông được tự chủ thì trường sẽ được quyền chủ động tuyển người và chủ động đánh giá cán bộ để xem xét nếu cứ 2 năm giáo viên đó không hoàn thành thì cho nghỉ, như vậy đã là tiến bộ.

Tiến tới thí điểm hợp đồng lao động giáo viên, việc này phải có lộ trình, từng bước, sau đó mới nhân rộng”, Bộ trưởng Nhạ cho biết. 

Bộ trưởng đánh giá, việc hợp đồng lao động giáo viên ở các trường tư thục rất tốt nên “thị trường lao động” là giáo viên trường công lập cũng cần như trường tư để hướng đến sự linh hoạt. Vì đây là tiền đề rất quan trọng để đẩy mạnh xã hội hóa. 

Các trường phổ thông, công tư đều lấy chất lượng và chuẩn mực giáo viên làm chính.

Quan điểm của chúng tôi, trước hết phải nhấn mạnh giao quyền tự chủ cho các trường phổ thông để họ được quyền quyết định trong tuyển dụng giáo viên, tránh bất cập, vênh giữa nhu cầu với thực tế với tính chất công việc” – Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ nói.

Nguồn: giaoduc.net.vn

15
03 2017
Không làm rõ, nắm chắc triết lý, mục tiêu giáo dục, đổi mới sẽ mất phương hướng Viết bởi Phạm Đức Quang
Chuyên mục chính: Tin tức Chuyên mục: Tin tức - Sự kiện Ngày đăng ?

Vấn đề “nhạy cảm” chính là những vấn đề mà cuộc sống đang cần, đang đòi hỏi phải sớm có câu trả lời. Xác định vấn đề “nhạy cảm” không phải là để tránh né nó.

LTS: Quý vị và các bạn đang theo dõi bài viết thứ 2 trong loạt bài của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI; nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam.

Nội dung xuyên suốt của loạt bài này là các góp ý, mong mỏi của ông cho công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nước nhà.

Tòa soạn xin trân trọng gửi đến quý bạn đọc bài viết này. Văn phong cũng như nội dung bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Tiêu đề bài viết do Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đặt.

Tiếp theo mạch bài trước, đánh giá lại 4 năm thực hiện Nghị quyết 29 của Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, trong bài viết hôm nay trước tiên xin trao đổi một số ý kiến liên quan đến triết lý và mục tiêu giáo dục. 

Đành rằng công việc đổi mới giáo dục cuối cùng thì phải rất cụ thể và thiết thực, chứ không phải là những lý thuyết chung chung trừu tượng, nói không sai nhưng không biết làm thế nào cho đúng. 

Tuy nhiên, một số vấn đề thuộc về triết lý và mục tiêu giáo dục mà nếu không làm rõ, không nắm chắc thì cuộc đổi mới dễ mất phương hướng. 

Thậm chí là mất công sức và tốn tiền bạc để thay đổi đủ thứ, rối cả lên, vừa đi xuôi vừa đi ngược, cuối cùng thì mục đích vẫn không đạt được, và cuộc đổi mới không thành công. Dân tộc này, đất nước này lại tiếp tục mất cơ hội. 

Phương pháp xác định triết lý, mục tiêu giáo dục

Hàng nghìn năm nay, các nhà triết học, văn hóa và giáo dục đã nhiều lần bàn, và nay vẫn tiếp tục bàn chứ không phải đã xong. 

Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, ảnh do tác giả cung cấp.

Câu hỏi đầu tiên thường được nêu ra là: “Mục đích của giáo dục để làm gì?”. Giáo dục để hình thành “con người”, sản phẩm của giáo dục là “con người” – điều đó thì hầu như ai cũng thống nhất. 

Nhưng cần tạo ra “con người như thế nào” thì từ xưa đến nay vẫn luôn có những ý kiến khác nhau. Do hoàn cảnh lịch sử cụ thể và do góc nhìn, cách tiếp cận khác nhau, nên đã có rất nhiều quan điểm không giống nhau. 

Và nhờ sự không giống nhau ấy mà ta có cách nhìn đa chiều, phong phú và sâu sắc thêm, liên tục hoàn thiện tư duy trên con đường đi tìm chân lý, trong một thế giới, một thời đại vận động không ngừng, liên tục biến đổi và tiến lên. 

Nói điều này cũng để thấy rằng, không phải nói một lần, với ý kiến của ai đó, thế là xong rồi, là chân lý mãi mãi rồi, cứ thế mà quán triệt, ghi nhớ và làm theo, không phải mất thì giờ bàn nữa. 

Đây là việc cần có cách nhìn mở, cần có phản biện và thảo luận thẳng thắn, thông tin nhiều chiều. 

Trong bất kỳ thời đại nào cũng vậy, ở bất kỳ quốc gia nào cũng vậy, đã là con người thì vẫn có, đều có những đặc tính nhất định giống nhau, ổn định bền vững, bởi đó là “con người”, chứ không phải là con gì khác. 

Đồng thời, trong mỗi thời đại, con người còn có những đặc điểm riêng mang dấu ấn của thời đại ấy. Thời đại khác nhau thì nhất định sẽ có con người khác nhau. 

Đương nhiên rồi, nhưng không riêng thời đại đâu, mà cộng đồng dân tộc, môi trường tự nhiên và văn hóa, điều kiện xã hội khác nhau cũng hình thành nên con người khác nhau. 

Mặt khác, trong cấu tạo tự nhiên ở các vùng vỏ não của con người nói chung không ai giống ai.

Vậy nên, tư duy cực đoan muốn bắt con người nhất định phải thế này hoặc thế kia, phải giống nhau đồng loạt, phải theo một ý muốn từ bề trên nào đó tạo ra, đều là sai lầm, đều làm mất động lực tiềm ẩn và lớn lao nhất, đều là kìm hãm sự phát triển của con người. 

Có nhà nghiên cứu cho rằng không có học sinh kém mà chỉ có học sinh giỏi việc này và không giỏi việc khác. Nhiệm vụ của người thầy là phát hiện cho được ở em nào đang tiềm ẩn năng lực có thể giỏi thứ gì để giúp cho nó phát triển tốt nhất theo hướng ấy. 

Từng học sinh cần phải được phát triển một cách tự nhiên, “tự do”, không bị gò ép theo tư duy chủ quan của người khác. 

Ngược lại, nếu cho rằng, con người cứ phát triển một cách tự phát, tùy hứng, không cần có những giá trị chung (làm chuẩn) về nhân cách thì cũng sẽ là sai lầm “chết người”, vì chính sự tự phát ấy sẽ phá vỡ nền tảng văn hóa, cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội.

Mỗi con người là một thế giới riêng, không ai giống ai; và mặt khác, họ đều là thành viên của một cộng đồng cùng loại. 

Triệt tiêu hoặc làm lu mờ vai trò của cá nhân sẽ làm mất động lực phát triển. Quên tư cách thành viên của cộng đồng sẽ làm hư hỏng hoặc rạn nứt nền tảng văn hóa. 

Từ những cá nhân được hoàn toàn giải phóng, được hoàn toàn tự do, phát triển tối đa theo các thế mạnh của mình, cộng lại sẽ có một cộng đồng dân tộc với sức mạnh của cấp số nhân. 

Mặt khác, như chúng ta đã biết, con người khi mới sinh ra là một thực thể tự nhiên, sau đó nhờ cộng đồng, sống và gắn bó với cộng đồng, mà họ trở thành Người. 

Bài học kinh nghiệm từ phương Tây, Nhật Bản

Xã hội phương Đông, với hàng nghìn năm chế độ phong kiến, con người cá nhân bị kìm hãm, không được giải phóng, đó là nguyên nhân quan trọng hàng đầu làm đất nước tụt hậu. 

Trước đó, phương Tây đã có thời kỳ chìm trong chế độ thần quyền, có nhiều mặt phát triển kém phương Đông, ai nói khác giáo hội có thể bị đưa lên dàn hỏa thiêu. 

Nhưng sau đó, phương Tây đã biết thế tục hóa, “phục hưng” và “khai sáng”, giải phóng tự do cá nhân, họ phát triển vượt lên phía trước, bỏ phương Đông lại phía sau, cách xa họ cả một nền văn minh.

Trong giai đoạn sau đó của lịch sử, một số nước ở phương Đông đã ý thức được điều đó và họ đã quyết tâm triển khai những cuộc cải cách lớn theo hướng tích cực và chủ động tiếp thu có chọn lọc những yếu tố hợp lý từ phương Tây. 

Những nước phương Đông ấy cũng đã phát triển vượt lên. Một trường hợp đáng nghiên cứu tham khảo là nước Nhật. 

Vào giữa thế kỷ 19, Nhật Hoàng và các nhà lãnh đạo thông minh của nước Nhật nhận thức sâu sắc được tình hình và nguyên nhân tụt hậu so với phương Tây, đã đi đến một quyết định lịch sử mạnh mẽ là tiến hành một cuộc đại cải cách để phát triển nước Nhật. 

Công cuộc ấy đã bắt đầu bằng việc cho dịch, in, phát hành các tác phẩm nổi tiếng của phương Tây bàn về tự do và cử đoàn chuyên gia gồm nhiều người tài giỏi của nước Nhật đi nghiên cứu học tập kinh nghiệm phát triển của Châu Âu, nhất là kinh nghiệm của nước Đức.

Qua những điều vừa trình bày, tôi mong muốn được chuyển đến bạn đọc để tham khảo một ý kiến rằng, trong công cuộc đổi mới căn bản nền giáo dục hiện nay, việc quan trọng hàng đầu là giải phóng con người khỏi các tư duy lạc hậu, kìm hãm tự do cá nhân, để thật sự trở thành người tự do, có thể phát triển tối đa những năng lực tiềm ẩn, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu tinh hoa của văn hóa dân tộc và nhân loại.

Năng lực Người, nền tảng của triết lý giáo dục

Đặc tính quan trọng hàng đầu cần có ở con người là gì? Đó là tính trung thực, lòng nhân ái và năng lực (tư duy và hành động). 

Văn hóa là những giá trị thuộc về con người. Không trung thực sẽ không có tự trọng và không biết xấu hổ. Khi con người biết xấu hổ là lúc văn hóa bắt đầu. Nhờ biết xấu hổ mà con người đã dùng lá nho để che thân. Từ đó, văn minh bắt đầu.

Trong một gia đình, một tập thể, một cộng đồng mà bao gồm nhiều con người sống không trung thực thì thật đáng sợ. Trong một môi trường trung thực và minh bạch sẽ không có chỗ ẩn nấp của các thói xấu và các thủ đoạn. 

Lòng nhân ái cũng là nền tảng của văn hóa cộng đồng. Văn hóa là sống. Sự sống của con người. Cách sống và cuộc sống.

Con người ta sống với nhau trước tiên là bằng lòng nhân ái. Khi lòng nhân ái không còn thì đó là môi trường phát triển của cái ác, con người sẽ không còn là con người, sẽ không phải là bạn của nhau. 

Năng lực tư duy và năng lực hành động là cái cần thiết để con người nhận thức và cải tạo thế giới. Năng lực và sự sáng tạo là bạn đồng hành. Năng lực là để sáng tạo. Và sự sáng tạo làm cho năng lực phát triển hơn lên. 

Năng lực là cái tự nó. Không thể ban phát, không thể vay mượn, không thể áp đặt. Khi nói đến năng lực Người, theo nghĩa của chữ Người viết hoa, là bao hàm cả phẩm chất, trong đó có tính trung thực và lòng nhân ái. 

Như phần đầu đã nói, sản phẩm của giáo dục là con người. Nói cô đọng và cụ thể hơn, đó là năng lực Người. 

Cần tạo ra những con người thật sự có năng lực của chính mình, để họ tự quyết định mọi thứ, chứ không phải là tạo ra những con người chỉ biết thừa hành như một công cụ của người khác, do người khác áp đặt tư duy. 

Đổi mới giáo dục cần giải quyết cho được những vấn đề “nhạy cảm” một cách khoa học, thực chứng

Để năng lực Người có thể phát triển một cách tự nhiên, không bị biến dạng, thì người học và người dạy đều phải là những con người tự do. Tự do thật sự. Tự do với chính mình. Tự do trước người khác. Tự do trước quyền lực và mọi sự áp đặt. 

Trong tự do, trước nhất là tự do tư tưởng và tự do ngôn luận để thể hiện chính kiến của mình. Không có tự do thật sự thì con người chẳng những không phát triển được năng lực, mà cũng không thể xây dựng được tính trung thực. 

Khoa học tâm lý đã từng cho biết, nói dối trong rất nhiều trường hợp cũng là một “cơ chế tự vệ” khi con người không có quyền tự do.

Khi không có tự do, con người sẽ không thể phát triển đầy đủ năng lực tư duy độc lập. Khi không có tư duy độc lập thì con người cũng thiếu sức đề kháng về văn hóa, trở thành thụ động, dễ bị các thói hư tật xấu xâm nhập và hủy hoại. 

Chính điều này đã cho thấy vai trò to lớn của tự chủ đại học và tự do học thuật trong công cuộc đổi mới giáo dục. 

Đối với những quốc gia có một nền giáo dục đại học phát triển, thì tự do học thuật là chuyện rất bình thường, đương nhiên, như vốn có của giáo dục đại học theo đúng nghĩa. 

Ở Việt Nam ta, chuyện tự do học thuật đến nay vẫn chưa quen, thậm chí còn không ít ý kiến khác nhau, kể cả cho rằng có cần thiết hay không cần thiết. 

Chưa quen thì phải làm quen! Đây là việc rất cần thiết, nếu muốn dân tộc ta phát triển.

Cũng có ý kiến ngại đụng đến những vấn đề “nhạy cảm” trong chính trị, nếu như mở rộng tự do học thuật. 

Đó là cách tư duy sai lầm. Giống như ngại ánh sáng. Trong khi ánh sáng mới chính là nguồn sống và sự phát triển của tư duy khoa học. 

Cái gì đã đúng, đã có cơ sở khoa học, thì trong tự do học thuật nó càng được khẳng định, càng có sức sống. Cái gì chưa đủ cơ sở khoa học thì trong tự do học thuật nó sẽ sớm được phát hiện, được bổ sung, điều chỉnh để phù hợp hơn, tránh được những sai lầm. 

Những vấn đề “nhạy cảm” chính là những vấn đề mà cuộc sống đang cần, đang đòi hỏi phải sớm có câu trả lời. Xác định vấn đề “nhạy cảm” không phải là để tránh né nó, mà ngược lại là để “xông vào”, hiểu nó đến cùng, và có lời giải để đáp ứng cho yêu cầu của cuộc sống.

Nguồn: giaoduc.net.vn

 

Về chúng tôi

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Trung ương

Dương Xá - Gia Lâm - Hà Nội

Phụ trách: Ban Biên tập

Quản trị: Phòng Công tác Học sinh - Sinh viên

Điện thoại: 043.6785193

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

03922311
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Last Week
This Month
Last Month
Tất cả
3394
4040
7434
3888368
100565
120202
3922311
Your IP: 54.167.242.107
Server Time: 2017-06-27 21:03:08